Board index » VĂN / THƠ » Đoản văn / Truyện Sáng Tác/ Sưu Khảo

 


Post new topic Reply to topic
Author Message
PostPosted: Sat Sep 06, 2014 12:23 pm
  

Site Admin

Joined: Wed Jul 23, 2014 2:41 am
Posts: 28
Châu Âu – 25 Ngày Bên Bờ Địa Trung Hải (Mediterranean)
Phần 3: Paris Có Gì Lạ Không Em?

(Kính tặng hương hồn Mẹ tôi - QD tháng 10/2009)

_______________________________________________

Ghi chú: Bài viết này được chia làm 3 phần:

Phần 1: Châu Âu – 25 Ngày Bên Bờ Địa Trung Hải (Mediterranean)
http://khungtroisaomai.info/ktsmdiendan ... php?t=4702

Phần 2: Tây Ban Nha - Những Điều Trông Thấy.. Mà Đau Đớn Lòng (Nguyễn Du)
http://khungtroisaomai.info/ktsmdiendan ... php?t=4749

Phần 3: Paris Có Gì Lạ Không Em?
http://khungtroisaomai.info/ktsmdiendan ... php?t=5083


Image


Rời bến Barcelona thuộc địa phận Tây Ban Nha (Spain) du thuyền Princess hướng lộ trình về Paris thủ đô của nước Pháp. Vì du thuyền Princess khá khổng lồ nên không thể trực tiếp vào cảng Paris mà Princess phải cặp bến tại La Havre, một thành phố cách Paris gần 100 dậm. Từ cảng La Havre, du khách có thể thuê xe taxi hoặc đáp tàu lửa về Paris. Theo chương trình đi tour, chúng tôi có dịp thăm viếng hòn đảo Cannes trước khi cặp bến La Havre.

Đến Paris tôi chợt nhớ đến nhạc phẩm "Paris Có Gì Lạ Không Em?" mà Mẹ tôi hằng yêu thích lúc còn sinh thời. Đây là bản nhạc được nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa mà chúng ta thường nghe ca sĩ Thái Thanh hát trước thời 1975. Bản nhạc rất thịnh hành từ mấy chục năm về trước, Mẹ tôi yêu thích và chính vì vậy mà tôi cũng rất ưa chuộng.

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?
Làm ơn che khuất nửa vừng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng

Anh sẽ thở trong hơi sương khuya
Mỗi lần tan một chút suơng sa
Bao giờ sáng một trời sao sáng
Là mắt em nhìn trong gió đưa…

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay

Anh sẽ chép thơ trên thời gian
Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
Vì em hay một vừng trăng sáng
Đã đắm trong lòng cặp mắt em?

Anh sẽ đàn những phím tơ trùng
Anh đàn mà chả có thanh âm
Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ
Để lúc xa vời đỡ nhớ nhung

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen? …


Với bài thơ "Paris Có Gì Lạ Không Em?", hình như đối với Mẹ tôi, người có một nỗi niềm tâm sự gì đó. Bài thơ thật hay, bài nhạc thật tuyệt vời nhưng tôi chưa bao giờ thấy Mẹ tôi hát hay ngâm cả, người chỉ đọc thơ khi ru các em tôi ngủ. Chúng tôi lớn lên bằng lời ru "thơ" ngọt ngào của Mẹ. Có lẽ vì thế ấn tượng trong đầu tôi về thủ đô Paris qua những lời thơ mà mẹ đã ru là hình ảnh của những chuyện tình thật lãng mạn.

Du thuyền cặp bến đảo Cannes vào sáng sớm. Cannes là một hòn đảo và cũng là một thành phố du lịch tuyệt đẹp của Pháp, cách Paris vài trăm dậm. Thành phố nằm tại Côte d'Azur thuộc département Alpes-Maritimes. Dân số khoảng 70,000 người. Vì là đảo (Island) nên Cannes có một bờ biển tuyệt đẹp lượn quanh. Từ trên khoang tàu nhìn xuống, nước biển Cannes trong xanh biên biếc với bãi cát dài trắng xóa, mặc dầu mới tờ mờ sáng mà chúng tôi đã thấy có cả vài ngàn người trên bờ biển.

Đã dự tính trước, vừa xuống biển là tôi thay đồ và nhào ngay xuống nước để mặc bà xã ngồi trên bờ tán dóc với mấy bà đầm già. Không như biển California nước lạnh cóng, biển Cannes nước ấm áp tuyệt diu, có một điều làm tôi hơi hơi khó chịu là mấy nàng Tây ở đây đa số đều "topless" (ở trần) khi tắm biển. Biển chen chúc người tắm, các nàng Tây trẻ cũng như các bà thuộc cở "sồn sồn" (có muốn ngó lơ cũng không được vì nhìn chỗ nào cũng thấy hết, không lẽ tôi nhắm mắt thì sợ phải làm mồi oan uổng cho cá mập, tôi đành mở mắt láo liêng chỉ để canh chừng cá mập mà thôi), họ cười nói đuà giởn một cách tự nhiên với nhau. Khi du thuyền vừa cặp bến Cannes, trong khi chờ đợi làm thủ tục vào Pháp, mặc dầu chỉ khoảng 20 phút chờ đợi chúng tôi cũng cảm thấy nôn nao trong lòng vì khung cảnh đất trời bao la tuyệt đẹp. Tôi cứ tưởng tượng các thiếu nữ qua những vần thơ:

"Em có đứng ở bên bờ sông?
Làm ơn che khuất nửa vừng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng"



Tại bờ biển Cannes, mấy em "Tây" của ông thi sĩ Nguyên Sa không "đứng ở bên bờ sông" mà bơi lội hay nằm phơi mình trên cát chật cả bãi biển. Cái khổ là thân hình của tôi hơi thuộc loại "bồ tượng" bơi không khéo là đụng ngay những hòn núi lửa chung quanh thì phiền lắm, vừa bơi vừa né tránh đã mệt bở hơi tai mà khi lên bờ "nhà tôi" còn nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngờ và hỏi nhỏ: "Anh có chắc là không đụng ai không hở..."

Cannes là thành phố đẹp của Pháp rất nổi tiếng về đại hội đìện ảnh với danh xưng là "Liên Hoan Phim Hội" (tiếng Pháp: le Festival international du film de Cannes hay đơn giản le Festival de Cannes). Liên hoan phim trường của Cannes có uy tín nhất thế giới, được tổ chức lần đầu từ 20 tháng 9 đến 5 tháng 10, 1946. Từ đó, liên hoan phim được tổ chức hàng năm vào tháng 5 hay thàng 6. Thu hút số lượng lớn các phương tiện truyền thông tham gia đưa tin, Liên hoan phim thường có sự hiện diện của nhiều ngôi sao điện ảnh và là nơi gặp gỡ ưa chuộng của các nhà sản xuất phim để trình làng những bộ phim mới nhất và quảng cáo bán cho các nhà phân phối đến từ khắp nơi trên thế giới.

Giải thưởng uy tín nhất được trao tại Cannes là Palme d'Or (giải Cành Cọ Vàng) cho phim xuất sắc nhất; giải thưởng này thỉnh thoảng cũng được trao cho nhiều phim khác đã ra mắt trong một năm. Ban giám khảo của Liên hoan phim hội gồm một nhóm những chuyên gia điện ảnh quốc tế còn chọn lựa trao tặng những giải thưởng khác cho các tác phẩm mới bao gồm "Giải thưởng lớn" (Grand Prix - giải thưởng quan trọng thứ hai).

Chúng tôi mua vé xe lửa du lịch để tour vòng quanh thành phố biển tuyệt đẹp này. Từ những khách sạn 5 Sao tuyệt đẹp đến các sòng bài (Casino) dọc bờ biển và những ngôi nhà của các tài tử màn ảnh thế gìới mà giá trị của những căn nhà này đến cả hàng chục triệu Mỹ kim tạo cho du khách một ấn tượng rất thích thú.

Tháng 6 là mùa tổ chức liên hoan phim hội nên khách du lịch khắp mọi nơi đổ về thăm viếng tấp nập. Chúng tôi đã đến tham dự ngày hội của phim trường và tại đây may mắn tôi đã được nhìn thấy tận mắt một vài tài tử hàng đầu của Holywood phim trường như: Nicolas Cage, Kevin Costner, Judy Garband, Leonardo DiCaprio và cả nàng minh tinh Shanon Stone. Cố nhiên chỉ được cái vinh dự đứng xa xa nhìn tới và vẫy vẫy tay chào trong rừng người với hy vọng được họ nhìn thấy mình.

Cũng tại địa đìểm Liên Hoan Phim Hội, trong phòng trình bày về lịch sử đìện ảnh thế giới tôi gặp một người Mỹ tên là John Ducus. John là ký gỉa của tạp chí Women's Magazine. Qua những câu chuyện về nghệ thuật phim ảnh, tôi mời anh cùng uống vài ly beer tại một quán cốc bên lề thuộc khu trung tâm Liên Hoan Phim. Anh ta khoe với tôi là anh thông thạo tiếng Việt và cùng với bạn người Việt phụ dịch các bài viết trên các web site Việt Nam. John cho tôi bài viết của bạn anh về lịch sử ngành đìện ảnh phỏng theo tài liệu thu lượm từ các bài viết trong các phòng triển lãm tại đảo Cannes.

Bài viết này khá hay và có thể giúp cho những ai muốn có kiến thức thêm về lịch sử nghệ thuật thứ 7, tôi xin được post lại đây để tất cả chúng ta cùng đọc.

_____________________________


SỰ RA ĐỜI CỦA ĐIỆN ẢNH
Tác gỉa: Minh Quân

Từ một phát hiện lý thú về khả năng của mắt, các nhà sáng chế đã cho ra đời những thiết bị chiếu phim đầu tiên trong những thập niên đầu thế kỷ 19. Nhưng phải mãi tới tận cuối thế kỷ, người ta mới được thưởng thức phim ở rạp.

Đầu thế kỷ 19, các nhà khoa học đã phát hiện một hiện tượng lý thú về khả năng của đôi mắt người: nó có khả năng lưu lại hình ảnh của một vật trong khoảng một phần nhỏ của giây sau khi vật đó được dời đi. Đó là hiện tượng lưu ảnh (persistence of vision). Mắt người có khả năng nhận ra dư ảnh, và đó là tiền đề cho sự ra đời của điện ảnh (motion pictures: những bức ảnh chuyển động). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nó và quá trình nhận thức về chuyển động vẫn cho đến nay vẫn còn chưa được làm sáng tỏ.

Những thực nghiệm ban đầu

Khái niệm về lưu ảnh đã khuyến thích nhiều người tiến hành những thử nghiệm đầu tiên với các thiết bị chiếu phim trong suốt thế kỷ 19. Đầu tiên là thiết bị có tên Slotted Disk (đĩa đục lỗ) với những hình vẽ liên tiếp bao quanh một cái đĩa, khi quay chiếc đĩa trước một cái gương, và khi được nhìn qua những khe hở (slots), ta sẽ thấy hình ảnh dường như chuyển động. Zoetrope, một thiết bị được phát triển vào khoảng những năm 1830, là một cái trống bên trong rỗng với một dải ảnh nằm bên trong bề mặt của nó. Khi quay, nó cho hiệu ứng tương ứng như Slotted Disk. Vào những năm 70 của thế kỷ 19, nhà phát minh người Pháp Émile Reynaud cải tiến ý tưởng này bằng cách đặt những chiếc gương ở tâm cái trống. Vài năm sau, ông phát triển thành công phiên bản máy chiếu sử dụng gương phản xạ và thấu kính để phóng to hình ảnh. Năm 1892, ông bắt đầu trình diễn tại Paris. Với hàng trăm bức ảnh đặt trong một cuộn (reel), thông qua thiết bị của mình, ông giới thiệu một loạt ảnh động liên tiếp trong 15 phút.


Image

Đĩa đục lỗ (Slotted Disk)


Sự phát triển của nhiếp ảnh trong những năm 30 của thế kỷ 19 khiến các nhà phát minh nhận thức được việc kết hợp thiết bị chiếu ảnh chuyển động với thiết bị chụp ảnh để tạo ra những hình ảnh chuyển động thực sự. Một thực nghiệm nổi tiếng diễn ra tại California trong những năm 1870.

Leland Stanford, nhà đại tư bản đường sắt của Mỹ, thuê nhà nhiếp ảnh người Anh Eadweard Muybridge để giải quyết một vụ cá cược. Leland cho rằng trong lúc chạy, có những thời điểm 4 chân của con ngựa trong lúc chạy đồng thời không chạm đất. Nhiều người cho rằng điều đó không thể xảy ra. Thế là họ cá cược để làm sáng tỏ vấn đề. Muybridge đặt 12 máy ảnh trên đường ngựa chạy kèm theo những đoạn chỉ được giăng ngang trên đường và có 1 đầu nối với cửa chớp của máy chụp. Như vậy khi con ngựa chạy, nó sẽ làm đứt chỉ và các máy sẽ chụp được những bức ảnh liên tiếp. Dĩ nhiên Leland Stanford đã chứng minh được rằng ông đúng. Còn Eadweard Muybridge thì mang những hình ảnh đó đi công chiếu với một thiết bị có tên là Zoopraxiscope do chính ông sáng chế.

Image


Những bức ảnh mà Eadweard Muybridge chụp được trong vụ cá cược.

Thực nghiệm của Muybridge đã thôi thúc nhà khoa học người pháp Étienne-Jules Marey phát minh một thiết bị lưu và phân tích chuyển động của con người và loài vật. Ông đặt tên cho nó là Chronophotographic. Thiết bị có khả năng chụp ảnh này chồng lên ảnh khác. Công việc của Marley được hỗ trợ rất nhiều với sự phát triển của vật liệu phim ảnh. Năm 1885, nhà phát minh người Mỹ George Eastman giới thiệu những tấm giấy "phim" bắt sáng tốt hơn để thay thế cho bản kính được dùng trước đó. Sau này, ông tiếp tục thay thế nó bằng celluloid, một chất dẻo tổng hợp được tráng bằng một lớp chất bắt ánh sáng galatin (gelatin emulsion).

Vai trò của Thomas Alva Edison và William K. L. Dickson

Nhà phát minh nổi tiếng người Mỹ Thomas Alval Edison bắt đầu để ý đến phim vào những năm 1890. Có thể nói ông người hoàn thiện những thành quả của Muybridge, Marey và Eastman. Tại những thí nghiệm của mình ở West Orange, bang New Jersey, Edison phân công cho nhân viên người Anh, William K. L. Dickson, chế tạo ra chiếc máy có khả năng ghi lại những chuyển động thật và một thiết bị để xem lại những kết quả đó. Đến năm 1891, Dickson cho ra mắt một chiếc máy "quay phim" gọi là Kinetograph và một chiếc máy "chiếu phim" gọi là Kinetoscope.


Image

Máy chiếu phim Kinetoscope


Kinetogaph hoạt động theo nguyên lý: một motor điện làm cho những celluloid film chạy qua trước ống kính camera. Ban đầu chiếc motor này khá đồ sộ và không di chuyển được, nhưng sau đó nó nhanh chóng được thay thế bằng tay quay camera có khả năng di chuyển. Một nhân tố đóng góp vào thành công Dickson là cơ cấu bánh răng có nhiệm vụ liên kết tới cửa chập camera, cuộn phim sẽ tự động dừng lại sau mỗi "kiểu ảnh". Khái niệm khung hình (frame) xuất hiện từ đây. Khi mới ra đời, các camera có rất nhiều tốc độ khác nhau cho một frame, nhưng từ năm 1920, tốc độ 24 khung hình trên giây trở thành chuẩn chung.

Đầu năm 1893, Edison lập xưởng phim tại phòng thí nghiệm. Ông tổ chức buổi chiếu phim đầu tiên vào ngày 5/9/1983. Tuy nhiên, mỗi buổi chiếu chỉ có thể phục vụ tối đa một người. Kinetoscope như một cái hộp chứa motor và cửa chập như camera. Khi chuyển động tay quay, những đoạn phim dương bản sẽ chạy qua nguồn sáng điện, làm rõ những tấm ảnh rất nhỏ và nó được xem qua một cửa sổ nhỏ. Mục tiêu tiếp theo của Edison và Dickson tiếp tục cải tiến để máy chiếu của họ có thể chiếu tại khán phòng lớn, như Émile Reynaud đã làm được ở Paris.

Anh em Lumière

Tại Pháp, anh em Auguste và Louis Lumière theo đuổi công việc cải tiến những thành công của Edison. Đến năm 1895, họ phát triển ra một chiếc camera nhẹ, cầm bằng tay, có sử dụng máy kẹp để nâng cao cuộn phim. Họ đặt tên cho nó là Cinématographe. Không lâu sau, hai anh em khám phá ra rằng họ có thể dùng nó để chiếu phim trên màn ảnh lớn khi được kết nối với máy chiếu. Trong suốt năm 1895, họ quay một bộ phim và chiếu thử cho một nhóm người. Đến ngày 28/12/1895, những khung hình đầu tiên được chiếu cho công chúng ở Paris và đây được xem là buổi chiếu phim đầu tiên


Image
Thiết bị Cinématographe của anh em nhà Lumière


Ở những nơi khác, các nhà phát minh vẫn miệt mài cải tiến chiếc máy quay và máy chiếu phim. Tại Đức, anh em Emil và Max Skladanowsky chế tạo ra một thiết bị khác và chiếu phim tại Berlin vào tháng 11/1895. Tại Anh, một thiết bị phát triển bởi Birt Acres và Robert W. Paul được dùng để chiếu phim tại London tháng 1/1896. Tại Mỹ, một máy chiếu có tên Vitascope được Charles Francis Jenkins và Thomas Armat giới thiệu trước công chúng. Về sau, Armat cộng tác với Edison để sản xuất ra máy chiếu Vitascope. Sản phẩm được cho ra mắt vào tháng 4/1896 tại New York


Image
Máy chiếu phim Vistascope


Trong bối cảnh đó, anh em Lumière rẽ sang hướng khác: trở thành những nhà làm phim chuyên nghiệp. Trong vai trò mới, họ cũng gặt hái được nhiều thành quả vang dội. Các bộ phim được làm từ năm 1895 đến 1896 chủ yếu là những bộ phim ngắn nhưng rất quan trọng. Chúng được xem là cột mốc đầu tiên trong lịch sử hơn một thế kỷ của ngành điện ảnh, chẳng hạn như Arroseur Et Arrosé (Waterer and Watered, 1896). Đây là một đoạn hài kịch ngắn dựa theo một câu chuyện tranh ở báo, nói về một người làm vườn lấy vòi nước xịt vào người khác để ðùa giỡn. Anh em Lumière gọi những phim của họ là "actuality film", tức là tái hiện những sự kiện có thật.

Image


Image


Image


Image

Một bờ biển tuyệt đẹp là bến của các du thuyền

Image

Tại bờ biển Cannes, mấy em "Tây" của thi sĩ Nguyên Sa không "đứng ở bên bờ sông" mà bơi lội hay nằm phơi mình trên cát chật cả biển ...

Image

Nước biển Cannes trong xanh biên biếc với bãi cát dài trắng xóa, mặc dầu mới tờ mờ sáng mà chúng tôi đã thấy có cả vài ngàn người trên bờ biển.

Image

Cô nhân tình bé của tôi ơi!
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người ....(Nguyễn Bính)


Image

Hàng cây palm quen thuộc nhắc nhở tôi những con đường quen thuộc từ nhà đến sở làm .... tôi nhắm mắt hy vọng những ngày vui của chúng tôi không qua mau ...

Image

Các khách sạn lớn tại thành phố Cannes rất đông du khách trong mùa Liên Hoan Phim hội ...


Image

Image

Image


Cannes là thành phố đẹp của Pháp rất nổi tiếng về đại hội đìện ảnh với danh xưng là "Liên hoan phim hội" (tiếng Pháp: le Festival international du film de Cannes hay đơn giản le Festival de Cannes). Liên hoan phim trường của Cannes có uy tín nhất thế giới, được tổ chức lần đầu từ 20 tháng 9 đến 5 tháng 10, 1946.

Trong bài tường thuật đặc biệt của mục du lịch trước đây, chúng tôi có bài viết giới thiệu về Las Vegas với hình ảnh của Paris Hotel-Casino trong link sau.

http://www.khungtroisaomai.info/ktsmdiendan/viewtopic.php?t=1269


Đây là một khách sạn và casino to lớn và nổi tiếng toạ lạc trên đại lộ Las Vegas Boulevard South. Về đêm du khách sẽ được chiêm ngưỡng khách sạn Paris với toà Eiffel tower rực rỡ dưới ánh đèn màu nổi bật với những tượng vệ nữ và fountains nước .

http://www.khungtroisaomai.com/ONX/eiffeltowerparishotel.jpg[/img]


Toà Eiffel tower tại khách sạn Paris lúc nào cũng rực rỡ ánh sáng về đêm ...


Tại Las Vegas, các nhà kinh doanh đã xây dựng bản sao của tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn và nhà hát Opéra Garnier. Paris tại Las Vegas tạo được y khuôn không khí và những kiến trúc của thủ đô nước Pháp: Hoành tráng, thơ mộng và kiều diễm. Chính vì lẽ đó khách sạn nổi tiếng này cùng với các khách sạn khác tại Vegas đã thu hút cả triệu triệu du khách đổ xô đến tham viếng hàng năm.

Tuy nhiên khách quan mà nói không thể so sánh được sự cổ kính Paris thật sự. Tất nhiên Paris mang những đặc điểm khác biệt về phương diện văn hóa. Trong những thơ văn viết ca tụng về vẽ đẹp của Paris, chúng tôi ghi nhận một bài thơ mô tả được hết nét độc đáo tuyệt vời của Paris mà ít người nhắc đến là bài "Công Chuá Paris" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Qua bài thơ này, Paris được nhân cách hóa như một nàng công chúa Tây phương với nét đẹp kiêu sa lỗng lẫy, nàng vừa cổ kính, vừa sang trọng nhưng cũng không kém phần thơ mộng và hoành tráng.

Công-chúa Paris

Từ thu về, ngọn gió may
Lướt mũi kim vàng thoăn thoắt.
Xong rồi ! Cô thợ khéo tay
Chiếc áo thời trang đã cắt!

Màu chuyển... Đủa tiên vừa đặt
Cây cành thôi khoác thanh ỵ
Từng phố, đây từng chỗ ngoặt
Áo vàng Công-chúa Paris.

Khách du có gã tình si
Quyết hái bàn tay Công-Chúa.
Ôi, nàng đã thiết triều nghi
Lộng lẫy ngai vàng lá úa!

Lệnh xuống, bừng lên khúc múa
Trăm ngàn pho tượng hồi sinh;
Nhịp với đồng vươn đá cựa
Mấy mùa vang bóng hiển linh.

Hai mươi thế kỷ nghiêng mình
Hai chục Paris tròn mắt.
Trái tim vàng của Đế-kinh
Họa điệu tình ca khoan nhặt.

Ai bảo đồng kia lạnh ngắt?
Ai rằng đá nọ trơ trơ?
Từ đỉnh ba trăm thước sắt,
Này nghe lòng Tháp vương tơ!

Sông Seine vàng lượn đôi bờ
Xuôi xuống vàng Mont-Parnasse
Ngược lên vàng Sacré-Coeur
Từng bậc từng cung đậm nhạt.

Khắp nẻo vàng thu san sát
Ngai vàng Công-chúa nguy nga.
Vương điện, Hoàng-môn, Đế-các
Chầu quanh... vạn thuở không già.

Khách du soi ngọn Đèn-hoa
Xem mặt Đô-kỳ Ánh-sáng.
Nàng ơi, ngoài trái tim ta,
Còn sính nghi nào xứng đáng?

Nàng ngủ trong lầu Dĩ-vãng
Chỉ thu về mới hiện thân.
Ta, kiếp phi bồng phiêu đãng,
Vì thu đứt ruột bao lần.

Nàng mang vòng ngọc Giai-nhân
Ta có vòng gai Thi-sĩ;
Tìm nhau đã mấy trầm luân
Mới thỏa u hoài vạn kỷ.

Rồi... mỗi lần thu hội ý
Hoa đăng lại vượt trùng dương.
Tháp lại truyền tin báo hỷ
Cưới nàng Công-chúa Tây-phương..

Vũ Hoàng Chương


Viết về nước Pháp và Paris lại gợi cho tôi nhớ đến vị Thầy dạy môn Pháp văn kính yêu của Sao Mai chúng ta. Thời đó, Thầy Trần Văn Thông đã tạo cho chúng tôi nhiều ấn tượng mâu thuẫn về xứ sở này. Thầy Thông không ưa gì thực dân Pháp, Thầy chống đối lại những kẻ đã đến đô hộ đất nước ta và tàn sát dân ta. Có lần Thầy đọc cho chúng tôi một bài thơ kể tội ác của thực dân Pháp mà cho đến bây giờ hơn 30 năm rồi nhưng tôi cũng còn nhớ vài câu:

"Chặt đầu ông lão treo hàng thịt
Mổ mật thanh niên giữa chiến tràng
Cối quét trẻ thơ văng máu óc
Phanh thây sản phụ ném vào than"
(Vô danh)


Ghét thực dân thậm tệ! Câu nói “mẹ nội mấy thằng Tây” được Thầy dùng những khi kể tộị ác quân xâm lược nhưng ngược lại Thầy thận trọng dạy cho chúng tôi về những nền tảng tinh hoa văn hóa của người Pháp. Thầy ca tụng Paris một cách hùng hồn. Đối với Thầy, Paris là chiếc nôi văn hóa của loài người. Qua các bài giảng về văn chương nước Pháp, Thầy Thông chính là người truyền bá văn học Tây phương cho chúng tôi qua các bài dịch về những tác phẫm của văn hào Victor Hugo và cuộc cách mạng năm 1879 của nước Pháp.

Đúng như Thầy Trần Văn Thông đã thường dạy, Paris nổi tiếng với tên gọi trứ danh là "kinh đô của ánh sáng", Paris chính là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Paris có một lịch sử cổ xưa gắn liền nước Pháp và cả châu Âu. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Cùng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong 4 "thành phố toàn cầu" cùng với New York, London, Tokyo.

Sông Seine vàng lượn đôi bờ
Xuôi xuống vàng Mont-Parnasse
Ngược lên vàng Sacré-Coeur
Từng bậc từng cung đậm nhạt.

Khắp nẻo vàng thu san sát
Ngai vàng Công-chúa nguy nga.
Vương điện, Hoàng-môn, Đế-các
Chầu quanh... vạn thuở không già.


Đúng như lờì thơ thật trữ tình lãng mạn của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, hai ngày trên các khu phố của Paris, mặc dầu chúng tôi đã rất vội vã vì thời giờ eo hẹp nhưng cũng có dịp thăm viếng nhiều vùng cổ kính sang trọng thật thơ mộng khoát chiếc áo kiêu sa đượm nét Phương Tây.

Chúng tôi đến quận La tinh là một khu phố sinh viên, nơi đây có các trường đại học từ nhiều thế kỷ trước. Cafe de Flore ở Saint-Germain des Prés từng là ngôi nhà của Chủ nghĩa hiện sinh. Đồi Montmartre ngoài nhà thờ Sacré-Coeur nổi tiếng còn là trung tâm của hội họa đầu thế kỷ XX. Tương tự, Montparnasse cũng từng thu hút nhiều họa sỹ, nhà văn nhưng ngày nay trở thành một khu phố văn phòng.

Chúng tôi viếng thăm khu China Town (Chợ Tàu) tại Paris, khu chợ tàu vẫn hiện rất rõ nét văn hóa phương Đông, đây là khu phố Tàu lớn nhất châu Âu. Tuy nói là phố Tàu nhưng thật sự tôi nhận thấy đa số chủ nhân các tiệm buôn đều của người Việt. Từ tiệm phở đến tiệm bán tạp hóa và ngay cả cây xăng đều dùng chữ Việt. Tôi phải khâm phục và hãnh diện về sự cần cù và lanh lợi của người Việt mình. Ngày nay ớ bất cứ ngành tiểu thương nào trên thế giới cũng có sự góp mặt của người dân Việt.

Đại lộ Champs-Élysée và các phố gần đấy như George-V, Montaigne ..vv...là khu vực nhiều cửa hàng thời trang cao cấp, cùng các khách sạn đặc biệt sang trọng như Plaza Athénée, Goerge-V...

Chúng tôi đã đến thăm nhà thờ sẽ thờ Đức Mẹ (Notre_Dame) với kiến trúc Gothic nổi tiếng thế gìới cùng với tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn và nhà hát Opéra Garnier.

Sông Seine êm đềm chảy giữa lòng thủ đô Paris không những là đề tài cho các thi nhân ca tụng trong những chuyện tình lãng mạn mà còn mang ý nghĩa lịch sử về tôn giáo tại Châu Âu. Theo truyền thuyết thì thánh Dennis truyền Cơ Đốc giáo vào thành phố Paris khoảng năm 250. Công trình tôn giáo đầu tiên có thể đã được xây dựng bên bờ trái sông Seine cạnh Val-de-Grâce ngày nay. Nhưng sử sách đã không ghi lại được chính xác về nhà thờ lớn đầu tiên của Paris cũng như các nhà thờ sau đó.

Bên bờ trái sông Seine là tu viện Saint-Germain-des-prés được xây khoảng thập niên 540. Vào thế kỷ 9 và 10 giống dân Normand thường xuyên tấn công Paris và đã phá hủy tu viện Saint-Germain-des-Prés. Tu viện này được xây lại trong khoảng 990. Chúng tôi chưa thấy tu viện nào lớn và đẹp lỗng lẫy như tu viện này.

Image


Image


Image


Image


Lệnh xuống, bừng lên khúc múa
Trăm ngàn pho tượng hồi sinh;
Nhịp với đồng vươn đá cựa
Mấy mùa vang bóng hiển linh.

Image

Image

Image

Image


Sông Seine vàng lượn đôi bờ
Xuôi xuống vàng Mont-Parnasse
Ngược lên vàng Sacré-Coeur
Từng bậc từng cung đậm nhạt.


Image


Image

Nói đến Paris và sông Seine, có một câu chuyện vui tôi xin được kể lại cùng các bạn.



Châu Âu – 25 Ngày Bên Bờ Địa Trung Hải (Mediterranean)

Phần 3: Paris Có Gì Lạ Không Em?


Nếu định nghĩa du lịch là đi thăm viếng một nơi nào đó tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu những văn hoá mới lạ của nơi đó hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí thì quá là đơn giản. Đối với những người có kinh nghiệm nhiều về du lịch, ai cũng biết cái khó khăn nhất của những người tham quan là phải đối đầu không những với môi trường sống khác lạ mà còn phải học hỏi những phong tục tập quán lạ đời mà mình chưa bao giờ trải qua trong đời.

Image

Cầu tiêu công cộng tại Pháp. Lọai cầu này rất thông dụng và có khắp nơi trên đường phố Paris

Image

Một hộp đựng thư? Không phải đâu! Đây là môt lọai cầu công cọng tại Paris

Từ cảng La Havre, chúng tôi theo đoàn du khách với 5 chiếc xe bus do công ty Princess tổ chức để đến Paris. Hai ngày đêm tại Paris thật tuyệt vời nhưng cũng lắm chuyện buồn cưòi đã xảy ra. Trong bài tường trình du lịch hôm nay tôi sẽ kể cho các bạn nghe những câu chuyện vui quay quanh nhà vệ sinh tại đất Pháp.

Viết về Paris và nước Pháp mà lại viết khôi hài về cái toilet thì chắc có bạn sẽ buộc cho tôi cái tội là cố tình "kỳ thị chủng tộc", thật sự không phải chỉ tại Pháp mà bất cứ nơi nào trên thế gìới chuyện "vệ sinh" của những du khách là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu và đã gây ra nhiều chuyện "cười ra nước mắt". Trước khi bắt đầu chuyện vui về nhà vệ sinh tại Paris, cũng với chủ đề này, trước hết tôi xin được nhắc lại câu chuyện vui trong chuyến du lịch Trung Quốc vào năm 2004 mà chúng tôi đã tường thuật trước đây trong bài viết "Từ Bắc Kinh Đến Thượng Hải"

http://www.khungtroisaomai.info/ktsmdie ... c.php?t=58

Câu chuyện vui thứ nhất: Chiếc Cầu Tiêu Trung Quốc

Image

Image


Image

Một dollar bạn có thể xữ dụng cầu tiêu này tại Bắc Kinh hay Thượng Hải


Chúng ta thường nghe nói “Trong đám mù thì kẻ chột làm vua". Câu tục ngữ này rất đúng nếu áp dụng vào chuyến du lịch Trung Quốc của chúng tôi. Nguyên một đám du lịch đa số là người Mỹ, một vài gia đình Việt Nam, chỉ có vợ chồng tôi biết đọc và nói tiếng Hoa. Đúng ra thì chỉ có vợ tôi biết đọc và nói tiếng Quang Thoại. Tôi nói được tiếng Quảng Đông nhưng ở Bắc Kinh thì rất ít ngươi biết tiếng này, về mặt đọc Hán Ngữ thì tôi mù tịt. Mớ Hán Ngữ học ở đại học Văn Khoa tôi đã trả lại hết cho giáo sư Phạm Văn Diêu và Vũ Khắc Khoan từ lâu rồi, có còn lại chỉ là mù mờ một vài chữ mà thôi. Bà xã tôi, Lâm Thế Anh, những ngày ở đây trở thành một “người hùng của cả nhóm. Từ Cấm Thành, chúng tôi viếng thăm Trung Tâm Trà LãoTữ (Lao She Teahouse), từ rạp hát nổi tiếng Lệ Dung (Liyuan Theater) với những đoàn vũ công tuyệt vời đến thành Vạn Lý, vợ tôi là nhân vật chính làm thông dịch viên cho cả nhóm chúng tôi. Cố nhiên, cũng nhờ hồng ân của nàng, tôi cũng trở thành nhân vật khá quan trọng. Sỡ dĩ phải dông dài như vậy là vì có một chuyện đã xảy ra mà tôi không thể không kể ra đây.

Chúng tôi đi du lịch Trung Quốc vào mùa hè, trời nóng không thua gì Đà Nẵng vào tháng 7 tháng 8. Uống nước nhiều, vì lạ nước nên cả nhóm chúng tôi mọi người đều bị Tào Tháo đuổi chạy cả ngày. Khổ nỗi, giống như những nước nghèo trên thế giới, hệ thống nhà vệ sinh tại Trung Quốc rất nghèo nàn. Lúc bấy giờ tôi nghĩ thầm, phải chi được nhà cầu như cầu cá Tra của miền Tây chúng ta, cứ ung dung vừa đi vừa ngắm nhìn đàn cá tung tăng thưởng thức các món ngon từ loài người ban bố thì cũng còn đở khỗ). Hầu hết các nhà cầu TQ trừ khi ở khách sạn mỗi lần xử dụng đều phải đóng tiền. Trung bình phải trả 50 xu nhưng phục vụ rất là kém, có nơi tương tự như những nhà cầu của chúng ta 30 năm về trước.

Vừa viếng đền Khổng Tử xong, nhóm đàn ông chúng tôi phác hiện ra một nhà cầu công cộng mà chính tôi cũng không tin là sự thật. Một nhà cầu giống ở Las Vegas! Hoàn toàn mới và tự động. Nhóm chúng tôi hơn 10 người đàn ông, ngoài người bạn cao niên của tôi Bác Si Nguyễn Chí Hiếu còn toàn bộ là các bạn người Mỹ. Phải nói rằng chúng tôi vào nhà cầu này với nỗi sung sướng tột đỉnh. Khi chúng tôi đang làm nhiệm vụ tự nhiên của loài người thì phác hiện trên tấm gương của nhà vệ sinh có hình Mao Trạch Đông với một bản thông báo viêt bằng chữ Hoa. Tò mò, một người bạn Mỹ hỏi tôi:

“Hey.. QD, Tấm bản này viết gì vậy?

Tôi và BS Hiếu cùng đọc. Tôi nhìn ra được chữ Nhân (ngườì) Tiểu (nhỏ) và chữ Đại. BS Hiếu thì đọc được chữ Nhũ (nước). Bên cạnh chữ Tiểu có con số 5 dollars và bên cạnh chữ Đại có con số 7 dollars. Với mớ chữ ngườì, tiểu, đại và nước, và hai con số 5 và 7 dollars. “Thông minh vốn sẵn tính trời, tôi dịch ngay ra tiếng Anh một cách thông suốt. Thông đến độ BS Hiếu nhìn tôi với đôi mắt rất khâm phục.

“Có gì đâu, đây là giá biểu cho việc xử dụng nhà vệ sinh. Đi tiểu trả lệ phí 5 dollars, đi cầu trả lệ phí 7 dollars, giấy chùi phải mua riêng. Trả tiền bên ngoài văn phòng sau khi xử dụng.

Ba người Mỹ đứng gần tôi, phản ứng rất nhanh. Một tên, kéo vội quần và nói:

“Trời đất! Sao mắc qúa vậy? Cũng may tôi chưa làm gì hết.

Còn hai người kia thì nhìn tôi và BS Hiếu than thở một cách não nề:

“Bậy qúa, sao ông không nói trước giùm cho, trể mất rồi.

Bên các phòng đóng cửa, tôi còn nghe có ngươì la lớn:

“Bóc lột qúa vậy, 7 dollars sao?

Cũng không ngờ kết qủa bản dịch là như vậy, tôi âm thầm đi ra khỏi nhà vệ sinh không quên gỡ tờ giấy thông báo đem theo. Gặp được bà xã đang đứng gốc cây ôm bụng thiểu não nhăn nhó, mừng qúa tôi liền khoe với nàng về nhà vệ sinh tối tân cho nam giới ở đây và không quên nhờ nàng đọc giùm tờ thông báo. Nhìn tôi bằng đôi mắt hơi chút nghi ngờ nhưng nàng vẫn dịch cho tôi một cách mạch lạc và đầy đủ và đây là nguyên văn dịch bản của nàng như sau:

“Nước hoa đang đại hạ giá. Chai nhỏ 5 đồng, chai lớn 7 đồng. Nước hoa hiệu Đồng Hưng, sản phẩm nổi tiếng của Trung Quốc.

Trời ơi là trời "nhờ" vào khả năng dịch thuật của tôi mà mấy chàng Mỹ bạn sợ xanh mặt không dám làm phận sự cá nhân trong nhà cầu mà ôm bụng chờ kiếm lùm cây thuận tiện.

Nghe tôi giới thiệu về nhà vệ sinh mới. Vợ tôi và các phụ nữ khác phấn khởi vô cùng. Họ cùng kéo nhau đi, 10 phút sau họ trở lại, vợ tôi cằn nhằn ngay:

“Trời ơi, nhà vệ sinh ở đây ghê thấy bà, sao anh nói tân tiến lắm? Nhìn vô là thấy muốn oí!.

Tôi sững sờ. Sao lạ vậỵ, giận quá tôi đi tìm người hướng dẫn viên và được ông ta giải thích:

“Năm 2000 Tổng Thống Mỹ ông Bill Clinton sang thăm Trung Quốc, Chính phủ phải làm nhà cầu này cho ông Bill và phái đoàn Mỹ đó mà. Tòan đàn ông nên họ không cần trang bị lại nhà vệ sinh phụ nữ. Do đó mới có cái nhà cầu tân tiến cho nam giới như vậy.

Image


Tiện lợi và không tốn tiền



Câu chuyện vui thứ nhì: Chiếc Cầu Cá Việt Nam (fish-pond toilet).

Image

Mỷ Tho năm 1975


Năm 1996, nhân chuyến về thăm lại quê hương Việt Nam, tôi đưa gia đình về thăm người Dì sống tại vùng quê Mỹ Tho một thành phố nhỏ thuộc Tiền Giang miền Tây Việt Nam. Gia đình tôi gồm vợ chống tôi, NQ con gái tôi lúc đó 16 tuổi và con trai Đại Vĩ 11 tuổi. Chuyến du lịch của chúng tôi cả tháng trời từ Sài Gòn đến Đà Lạt và từ Đà Lạt về Mỹ Tho . Chúng tôi tạm trú tại đó 1 tuần trước khi về lại Hoa Kỳ. Đây là chuyến về thăm quê nhà lần đầu tiên nên các con của chúng tôi chưa bao gìờ biết được đời sống tại vùng thôn quê Việt Nam, chưa bao giờ được thấy tận mắt đồng ruộng và những nông trại . Cố nhiên tất cả đều rất mới lạ, đều rất ngạc nhiên và thích thú cho con trai của chúng tôi. Ngày đầu tiên các con tôi theo mấy người cháu ra đồng làm việc được vui chơi với ruộng đồng thiên nhiên, được cởi trâu, bắt cá. Chúng vui thích vô cùng. Chiều về khi tắm rửa và bắt đầu chạm với thực tế khi chúng phát hiện ra cái cầu tiêu tại quê hương Việt Nam.

Ở vùng nông thôn miền Nam, bạn dễ dàng gặp hình ảnh cái cầu cá. Trong ngôn từ, tiếng Việt và tiếng Anh có nơi gọi là cầu cá (fish-pond toilet), có nơi gọi là cầu tôm, cầu lửng, cầu treo (overhung toilet), có nơi gọi là nhà vệ sinh, cầu tiêu, nhà xí, WC, toilet trên sông/kênh (river/canal toilet). Tên gọi cầu cá phổ biến hơn hết .

Cầu cá là một loại cầu tiêu kiểu "dã chiến" gồm một khung che gác trên bốn cây cọc cắm lơ lửng trên ao cá hoặc sông rạch và nối với đất liền bằng một cái cầu nhỏ. Vật liệu làm cầu thì rất đa dạng, kiểu "có gì xài nấy". Cầu và cọc đỡ có thể là một khúc cây gòn sống, các nhánh cây tre tầm vông, hoặc các thanh gỗ hoặc sang hơn là mấy thanh cọc bằng bê tông cốt thép. Còn "nhà cầu" thì thực chất là cái vành che cao vừa đủ, chừng bằng hoặc nhích hơn đầu gối người lớn một chút. "Nhà cầu" có thể là cái thùng phi cắt ngang khoảng 1/3 chiều cao, hoặc bốn tấm ván gỗ hoặc mấy tấm tôn kẽm ghép lại, nghèo hơn thì che chắn bằng lá dừa nước hoặc bất kỳ vất liệu phế thải nào lượm lặt được. Nhà nào sang một chút thì làm thêm mái che phía trên để che nắng tránh mưa. Cầu cá trông xa xa giống như một nhà sàn nhỏ hoặc một nhà thủy tạ cỏn con, không có sàn đáy...

Dễ dàng và đơn giản, người đi cầu cứ việc bước qua cầu dẫn, ngồi vào nhà cầu và cứ tự nhiên ngồi cầu lơ lửng trên không trung và vô tư xả xuống cầu các chất thải trong người xuống "thể giới dưới chân mình". Phía dưới ao, người dân thường nuôi cá vồ, cá tra, để chúng "tận dụng" chất thải người tạo thành một dạng chất đạm, chất béo mới trong cơ thể sống của chúng. Người đi cầu có thể ngồi ngắm mây trời thoáng đãng, hít cái không khi thôn dã, đọc nhật báo hoặc ngó xuống đàn cá tranh nhau các thứ "rơi rớt" của mình. Xả xong "bầu tâm sự", người ta chỉ việc nhẹ nhàng đi ra mà không phải bận tâm dội cầu cho sạch gì cả.

Trái với đứa con gái, sợ run người khi thấy cái cầu tiêu quái đản này, thằng con trai của tôi thì vui thích lắm. Buổi sáng, chú bé chạy ngay ra cầu và nhìn các nông dân qua lại. Người ta chào chú ta bằng tiếng Việt thì chú bé tỉnh khô đáp lại bằng tiếng Anh.

"Good morning, how are you doing?". Chào hết người này qua người khác và không cần biết họ có hiểu tiếng Anh hay không chú ta nhìn xuống hồ cá thiên nhiên, nhìn những con cá tranh mồi mà chú vừa thả xuống rồi cười sằng sặc. Thằng bé Đại Vĩ của tôi rất thích màn nuôi cá này vô cùng. Chú ta cố thuyết phục cô chị hãy thử cái cầu thú vị này:

"Don't you worry Queen! You will have fun with them.." (NQ ơi đừng lo, cái này vui lắm)

Tội nghiệp con gái mới chớm tuổi 16, lứa tuổi dậy thì nên rất mắc cở thêm vào đó con bé rời quê hương từ khi mới được 6 tháng, sống và lớn lên tại xứ Mỹ nên chưa bao giờ biết hay gặp những tình huống lạ đời này. NQ cố nhịn nhưng chuyện tự nhiên như vậy thì làm sao nhịn được, NQ năn nỉ tôi trở về Sài Gòn sớm hơn dự định.

Thương con nhưng tôi cũng không muốn về sớm vì đã hứa với bà Dì sẽ ở lại dự đám cưới ngưòi cháu vợ, tôi chợt nghĩ ra một cách là "modify" cái cầu tiêu lại. Sáng sớm tôi đã dậy sớm cùng với thằng cháu tên Cu lội xuống ruộng dừa nước cắt lá dưà. Tôi lấy lá dừa che kín cái cầu cá lại. Lại còn chế thêm một cái cửa ra vào rất tiện lợi. Cái khó khổ là cái sàn nhà cầu. Gác 2 cái cây lại với nhau để làm bàn ngồi thì dễ dàng nhưng lại rất nguy hiểm. Lỡ con gái tôi đạp bàn chân không đúng chỗ lại rơi tỏm xuống cầu là chết toi nên tôi phài lấy những thân cây dừa và ráp lại với nhau như các tấm ván ghép. Hì hục nguyên một ngày tôi mới làm xong chiếc cầu cá Việt Nam. Làm việc trên cầu mà nhìn xuống dưói hồ cá thấy mấy chú Catfish Việt Nam bu quanh chờ "mồi" thả xuống mà tôi cảnm thầy rùng mình. Mấy chú cá mập ù sống bằng đố phế thải của loài người. Only in Viet Nam phải không các bạn?

Thấy tôi hăng say xây dựng chiếc cầu, các anh chàng nông dân làm việc tại các cánh đồng gần đó chỉ mỉm cười, đối vơí họ chuyện cầu cá là bình thường và tự nhiên. Có anh chàng còn hứng chí tuyên bố, ở đời sướng nhất là ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, nay cần bổ sung thêm, lãnh lương Mỹ và ... đi hầm cá "dồ" Việt Nam.

Giải quyết được chuyện cái cầu cá không chỉ giúp cho con gái và bà nhà tôi mà ngay cả tôi cũng tránh được những ngại ngùng phiền nhiễu. Sáng sớm phải giải quyết vấn đề vệ sinh là cần thiết nhưng cứ tưỏng tượng thân hình đồ sộ của tôi (185 pounds) sượng sùng ngồi quay mặt ra đường nhìn đám bà con đi qua, đi lại người nào cũng gật đầu chào "Chào chú Ba, khoẻ chứ" (trời đầt, không khỏe mà ngồi đây sao?) hay "Anh Ba dậy sớm dữ ha?" làm sao tôi không đỏ mặt lúng túng.


Image

Cầu cá Việt Nam

Image


Cá chú cá Catfish (cá tra hay cá vồ) đang tranh mồi. Theo người Dì bên vợ tôi thì gia đình chỉ nuôi cá bán mà không ăn, hoặc muốn ăn thì sang cá qua mương lấy nước dùng nấu ăn để nuôi thêm vài tháng cho ăn bằng cơm hay tấm để tẩy hết chất dơ rồi mới dám ăn.

Image

Image


Lý do mà nông dân miền Tây thích cầu cá thật đơn giản. Thứ nhất là vật liệu làm cầu cá khá đơn giản, lại không đòi hỏi kỹ thuật cầu kỳ nên ai cũng có thể làm được thứ hai là họ ưa sự tự do thoáng mát, ít ai chịu nhốt mình trong bốn bức vách chật hẹp hôi hám và ruồi bọ, thứ ba là coi việc nuôi cá để "xử lý chất thải người" như là một nguồn thu nhập phụ mà ít đầu tư vốn, thứ tư là loại cầu này không cần phải dội nước nhiêu khê, và cuối cùng một số người xem chỗ đi cầu là nơi "gặp gỡ, giao lưu" nói chuyện với người cùng xóm hoặc là nơi thư giãn, xem cá tranh ăn...

Image

Mỹ Tho - Quê hương đẹp tuyệt vời

Gần 15 năm rồi đất nước Việt Nam đã mở cửa, nông thôn Việt Nam chắc có ít nhiều đổi thay và chúng tôi chưa có dịp về thăm lại Mỹ Tho lại không biết quê hương bên vợ tôi bây giờ thế nào? Con trâu, khu vườn chuối, những con catfish Việt Nam và chiếc cầu cá...Không biết có gì khác lạ?

Image

Những cô gái Pháp đẹp như tài tử holywood

Image

Kiến trúc tại Paris thật sang trọng và cổ kính

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Dân Tây đang chờ đèn xanh để qua đường


Image

Image

Các quán cà phê nằm góc phố như Sài Gòn trước 1975

Image

Image

Khuôn viên trường đại học

Image

Image

Image

Đường đi đến nhà thờ đức bà


Ngày cuối cùng tại Paris, chúng tôi thả bộ đến viếng thăm Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame), đây là nơi mà tôi đã hằng mơ ước được đến thăm từ thuở còn là học trò.

Nói đến Nhà Thờ Đức Bà tại Paris tôi không thể không nhắc đến những văn phẩm đã làm tôi say mê khi còn thời trung học. Tôi mê nhất là truyện "Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà - The Hunchback of Notre-Dame" và "Những Người Khốn Khổ - Les Misérables" của văn hào Victor Hugo. Theo tôi, hai tác phẩm này không chỉ là tiểu thuyết lãng mạn mà còn lột tả được bản chất của cái tốt, cái xấu, của luật pháp Tây phương. Đây là cuốn bách khoa thư đồ sộ bao gồm lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp bắt đầu nửa thế kỷ 19 và cho mãi đến ngày nay.

Trong một bài tường thuật về Paris sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc đến 2 tác phẩm đã tạo cho nhà văn kiêm thi sĩ Victor Hugo trở thành là một đại văn hào lừng danh vào thế kỷ thứ 19.

Image

Những Người Khốn Khổ (Les Misérables)

Tập truyện "Những Người Khốn Khổ" là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra trong thời trai trẻ. Bên cạnh việc phê phán sự lộng hành vô nhân đạo của các tầng lớp quý tộc và giới tôn giáo đương thời, tác giả đã ca ngợi mối tình trong sáng giữa những người nghèo khổ. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình yêu thương con người luôn được đề cao. Đó chính là thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm tới độc giả.

Image

Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà (Hunchback Of Notre Dame)

Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà Paris là câu chuyện xoay quanh số phận bi thảm của nhân vật thằng Gù - Quasimodo, người kéo chuông trong Nhà Thờ Đức Bà tại Paris. Với hình dạng mà mọi người đều cho là "gớm ghiếc, kinh dị", Quasimodo đã đem lòng yêu đơn phương một cô gái xinh đẹp người Digan - Esmerelda. Họ đều thuộc lớp người "thấp cổ bé họng" của xã hội Pháp và gặp những điều không may trong cuộc sống. Câu chuyện kết thúc với cái chết đầy đau thương của Esmerelda và Quasimodo. Đây là tác phẩm văn học có giá trị cao về mặt nghệ thuật và giáo dục, đánh thức lòng trắc ẩn trong mỗi con người.


Câu Chuyện Vui Thứ 3: Non..Non... Non…C’est femenine


Khi chúng tôi đến Notre Dame thì đã vào buổi trưa, cả đoàn du lịch gần trăm người của chúng tôi bị khốn đốn vì không thể tìm đâu ra những nhà cầu công cộng để giải quyết chuyện “tự nhiên” của loài người. Bí quá, chúng tôi đành nhào đại vào một quán ăn bình dân gần Nhà Thờ Đức Bà trước hết là ăn trưa đồng thời để giải quyết chuyện “tự nhiên”. Tại nhà hàng này có một câu chuyện vui mà cho đến hôm nay ngồi viết lại tôi vẫn không thể nhịn cười được.

Tất cả gần trăm người trong phái đoàn du lịch cùng vào nhà hàng một lúc. Chủ nhà hàng cả ngày đang ngồi ngáp ruồi tự nhiên thấy khách ùa đến thật đông đảo nên chào đón chúng tôi rất niềm nở. Cả đoàn toàn là dân Mỹ và không ai biết tiếng Pháp cả. Tai hại cho tôi là bà xã tôi đã hãnh diện khoe với những người bạn đồng hành là tôi biết tiếp Pháp chút ít, tôi đánh liều làm đại diện cho cả phái đoàn để lấy lòng bà xã. Múa máy tay chân với vốn liếng tiếng Tây nghèo nàn kèm tiếng Mỹ tôi cũng hỏi được nơi có cái nhà cầu để mọi người xử dụng. Sau đó chúng tôi được biết nhà vệ sinh của nhà hàng trên lầu hai. Nhà cầu cũng chia ra làm hai khu riêng biệt cho Nam và Nữ nhưng lại nhỏ tí tẹo. Nhỏ đến độ chỉ một người được vào thôi. Người này vào xong đi ra thì người khác mới được vào. Cứ thế mà sắp hàng, bên phái nam thì còn đở riêng phái nữ thì xếp hàng dài như con rắn.

Thấy hàng bên nữ dài quá mà bên Nam lại trống trơn tôi làm tài lanh nói với mấy bà Mỹ già cứ vào đại phòng vệ sinh Nam và có tôi ở ngoài bảo vệ. Ý kiến hay nên mọi người đều vổ tay tán đông và ban khen tôi. Khoảng 10 phút thì chuyện giải quyết có vẽ tốt đẹp cho đến khi một chàng Tây ở đâu thình lìnhxuất hiện. Tên Tây này cao to như con bò mộng và chòm râu ria coi bộ dữ tợn lắm. Hắn coi bộ cũng bí lắm rồi nên mặc kệ tôi đứng canh cửa hán cứ nhào đại vào sau khi nói với tôi một tràng tiếng Pháp mà tôi chỉ hiểu mang máng là:

- Tôi muốn dùng cầu tiêu, làm phiền ông tránh ra dùm.

- No, no. Nói được hai chữ đó thôi tôi bí rị, quơ tay ấp a ấp úng.

Pháp văn là môn sinh ngữ phụ, tôi học của thầy Trần Văn Thông mấy chục năm về trước đâu có dùng bao giợ bây giờ cần thì mớ chữ mọc cánh bay đâu mất tiêu. Tôi muốn nói hắn là có phụ nữ trong nhà cầu mà không biết sao diễn tả bằng Pháp nhữ nên tôi bèn chơi tiếng Anh với uớc muốn cầu may hắn hiểu được. “Please donot enter”. Tôi tính giải thích thêm nhưng hắn lắc đầu không hiểu và cứ hỏi Pouquois, Pouquois.. và đẩy tôi sang một bên để đi vào. Quýnh quá tôi vội dơ tay ra ngăn lại và la thật to hơn Non..Non... Non…C’est femenine … C’est feminine in the toillet. Ý tôi muốn nói đừng có vào đó có đàn bà trong đó. Chắc hắn thấy tôi múa máy tay chân như Lý tiểu Long đang duơng oai diệu võ như trong phim Trường Sơn Đại Huynh nên tức giận bỏ đi trước những đôi mắt thán phục của mấy nàng “Mỹ Kiều” đang đứng xếp hàng bên phòng vệ sinh nữ cạnh đó.

Các bạn biết việc gì đã xảy ra không? Khoảng năm phút sau, tên Tây đó trở lại với người quản lý nhà hàng, cả hai cùng đi với một người “thông dịch” họ mời tôi ra khỏi nhà hàng của họ vì tội lạm dụng cầu tiêu Nam và Nữ và làm mất trật tự của nhà hàng. Tôi bị giải xuống tầng dưới của nhà hàng và người quản lý thẳng tay bị đầy ra đường trong khi đó thì bà xã tôi và mấy người bạn đang còn xếp hàng. Khi ra ngoài cổng tôi còn nghe giọng bà xã nói vọng lại

- Anh ơi ra đó chờ em nha..

Oan ức là tôi ra tay nghĩa hiệp giúp mọi người mà bị tống cổ ra khỏi nhà hàng trong khi chưa được làm phận sự mà còn bị bụng đói chân run.

Image

Khi đến Notre Dame thi đã vào buổi trưa, cả một đòan du lịch gần trăm người của chúng tôi bị khốn khổ vì không thể tìm đâu ra những nhà cầu công cộng để giải quyết chuyện “tự nhiên” của loài ngưòi

Image

Nhà Thờ ĐỨc Bà

Image

Image

Cấu sông Sein trước Nhà Thờ Đức Bà tấp nập người qua lại

Image

Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame), nơi mà tôi đã có giấc mơ đến thăm từ thuở còn là học trò.

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Nhìn khu vực Nhà Thờ Đức Bà của Paris chúng ta có thể thấy được sự đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, về nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp.

Tiếp theo Phần 4: Cobh - Irealand - Aí Nhĩ Lan, thành phố với con tàu định mệng Titanic

Image

LesMiserables - Những Người Khốn Khổ


Tóm Lược Phim Những Người Khốn Khổ

Bản thân Những người khốn khổ có rất nhiều câu chuyện, nhân vật với những cuộc đời khác nhau, nhưng sợi dây nối những mảnh đời riêng biệt này lại là câu chuyện về Jean Valjean (Giăng Van-giăng), người cựu tù khổ sai, người đang cố gắng sống vì một xã hội tốt đẹp nhưng lại không thể thoát khỏi quá khứ của mình. Sau 19 năm ngồi tù với số tù 24601 vì ăn cướp thức ăn cho gia đình của mình đang lâm vào cảnh chết đói, người nông dân Jean Valjean được thả. Tuy nhiên anh phải mang theo giấy thông hành vàng, dấu hiệu cho thấy người mang nó từng phạm tội, vì vậy Jean bị chủ quán trọ từ chối và buộc phải ngủ ngoài đường. May cho anh là giám mục Myriel, một người nổi tiếng hay làm từ thiện đã cho Jean Valjean một chỗ nương náu. Khi mọi người đã ngủ, Jean lại ăn cắp mấy thứ đồ bạc của giám mục và chạy trốn, anh bị bắt lại sau đó nhưng lại được ông Myriel cứu thoát khi nói với cảnh sát rằng đó là đồ ông tặng cho Valjean. Khi chia tay vị giám mục già nói với Jean Valjean rằng anh nhất định phải trở thành một người lương thiện và làm nhiều việc tốt cho mọi người.

6 năm sau Valjean, nay mang tên ông Madeleine, đã trở thành một chủ xưởng giàu có và là thị trưởng thành phố nhỏ nơi ông sinh sống, Valjean phải mang tên giả để tránh sự phát hiện của thanh tra Javert (Gia-ve) vẫn đang truy tìm ông ráo riết. Tuy nhiên số phận buộc Valjean phải để lộ danh tính của mình khi một người đàn ông khác bị nhầm là Jean Valjean và bị bắt đưa ra tòa. Cùng lúc này, Valjean gặp Fantine (Phăng-tin), một cô gái đang hấp hối sau khi bị đuổi việc khỏi công xưởng của ông và buộc phải làm nghề mại dâm để có tiền nuôi con gái Cosette (Cô-dét), em đang phải sống với gia đình nhà Thénardier (Tê-nác-đi-ê) độc ác. Trước khi Fantine chết, Valjean hứa với cô sẽ chăm sóc Cosette cẩn thận, ông trả tiền cho lão chủ quán trọ Thénardier để giải phóng cho Cosette và cùng em chạy trốn lên Paris khỏi sự truy đuổi của Javert. Ở Paris, hai người trú trong một nhà tu kín mà Javert không được quyền khám xét, vì vậy họ tạm thoát khỏi sự truy lùng gắt gao của viên thanh tra.
Eponine do Julie Lund thủ vai

10 năm sau, sau cái chết của tướng Lamarque, người duy nhất trong giới lãnh đạo Pháp có cảm tình với giai cấp lao động, nhóm sinh viên đứng đầu là Enjolras tức giận với chế độ đã chuẩn bị cho một cuộc cách mạng vào đêm ngày mùng 5, rạng sáng mùng 6 tháng 6 năm 1832. Cuộc cách mạng cũng có sự tham gia của những người nghèo khổ, trong đó có cậu bé lang thang Gavroche (Ga-vơ-rốt). Một trong những người tham gia cách mạng là Marius Pontmercy, một sinh viên bị gia đình xa lánh vì quan điểm tự do của mình, anh đã đem lòng yêu Cosette, bây giờ đã trở thành một thiếu nữ hết sức xinh đẹp. Gia đình nhà Thénardier cũng đã chuyển tới Paris, bọn họ dẫn đầu một băng trộm đột nhập nhà của Valjean trong khi Marius đang đến chơi. Tuy nhiên con gái của Thénardier là Éponine cũng đã đem lòng yêu người sinh viên và cô đã thuyết phục bọn trộm rời khỏi đó.

Ngày hôm sau cuộc cách mạng nổ ra, những sinh viên bắt đầu dựng chiến lũy trên những con phố hẹp ở Paris. Khi biết người yêu của Cosette cũng tham gia nổi dậy, Valjean đã gia nhập với họ, không rõ là vì ông muốn bảo vệ hay giết Marius. Éponine cũng đứng vào hàng ngũ khởi nghĩa để bảo vệ Marius và cô đã chết hạnh phúc trên tay Marius sau khi hứng một viên đạn thay anh. Trong trận chiến tiếp theo, Valjean cứu sống Javert khỏi tay những người sinh viên và để viên thanh tra đi. Ông cũng cứu được Marius khi đó đã bị thương, nhưng tất cả những người khác, kể cả Enjolras và Gavroche đều đã bị giết. Valjean vác theo Marius chạy trốn theo những đường cống ngầm ở Paris, khi ra đến miệng cống ông chạm trán Javert, ông cố gắng thuyết phục Javert cho mình thời gian để trả Marius về gia đình của anh. Javert đồng ý đề nghị của Jean và nhận ra rằng ông ta đang bị kẹt giữa niềm tin vào luật pháp và niềm tin vào lòng tốt của con người mà Valjean đã cho viên thanh tra thấy, Javert cũng hiểu rằng ông không bao giờ có thể nộp Valjean cho chính quyền được nữa. Không thể chịu đựng nổi tình trạng khó xử này, Javert nhảy xuống sông Seine tự vẫn.

Marius và Cosette cưới nhau. Valjean đã mất niềm vui duy nhất của cuộc sống cuối đời vì bây giờ Cosette đã không còn cần đến ông nữa. Cosette bị Marius thuyết phục tránh xa Valjean vì anh cho rằng ông là người có đạo đức tồi. Mãi sau đó khi Valjean đã hấp hối, Marius mới nhận ra được lòng tốt của ông và chạy đến nhà Valjean nhưng tất cả đã muộn. Valjean chỉ còn kịp tiết lộ cho hai người về quá khứ của mình và trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời, ông cũng đã có niềm hạnh phúc khi ở bên là đứa con gái nuôi yêu quý và con rể của cô. Ông nói với họ rằng ông rất yêu quý họ, sau đó Valjean qua đời.

Image

Image

Hunchback Of Notre Dame

Tóm lược câu chuyện Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà

Thời đó ở Châu Âu nói chung, các thờ có quyền lực lớn vô cùng, có thể can thiệp vào mọi quyết định của chính quyền. Để củng cố quyền lực của mình, thời đó nhà thờ có làm 1 việc là cấm tất cả các loại sách báo, ngoài sách kinh thánh thì tất cả đều không được lưu hành, bị đốt hủy hết. Nói chung là lúc đó người dân bị nhà thờ kìm kẹp rất nhiều, nhất là về tư tưởng.

Trong bối cảnh đen tối đó, có một chuyện tình như thế này. Ba người cùng yêu 1 nàng Esmeralda. Ba người đó là : Ông Cha nhà thờ Đức Bà Frollo đầy quyền lực, Chàng Phoebus đẹp trai trưởng đội cận vệ Hoàng Cung và Quasimodo, chàng gù nhà thờ Đức Bà.

Nàng Esmeralda là ai? Đó là 1 cô gái rất xinh đẹp, sống trong đám người du mục ở Paris lúc bấy giờ. Esmeralda nhảy múa rất đẹp, ai nhìn cũng đem lòng yêu mến. Ông cha nhà thờ Frollo, đầy quyền lực, yêu nàng Esmeralda và ông ta tự nhủ rằng nếu Esmeralda không thuộc về ông ta thì cũng không bao giờ thuộc về ai khác được.

Chàng Phoebus thì gặp Esmeralda trong những lần đi đuổi đám người du mục ra khỏi Paris . Hai người yêu nhau mặc dù Phoebus sắp lấy vợ, một cô gái xinh đẹp, gia đình danh giá.

Quasimodo hình thù dị dạng từ khi sinh, bị chính mẹ đẻ bỏ rơi, bị tất cả mọi người xa lánh, sợ hãi. Quasimodo được cha Frollo đem về nuôi, dạy học và cho làm người kéo chuông nhà thờ. Đối với Quasimodo, Frollo là người thân duy nhất, là vị cứu tinh, Quasimodo sẵn sàng làm bất cứ việc gì cho Frollo.

Một lần Quasimodo bị phạt trói trước nhà thờ, khát nước, van xin nước uống, không có ai giúp, chỉ có nàng Esmeralda thương tình đem nước cho uống. Thế là từ đó, Quasimodo cũng đem lòng yêu Esmeralda Rồi cuối cùng mọi chuyện sẽ ra sao, ai yêu ai, ai lấy ai, ai sống, ai chết, kết cục bi thảm thế nào, Có hậu ra sao …??

Frollo Claude chết thê thảm. Bị Quasimodo ném từ nóc cao nhà thờ Đức Bà xuống, hắn tan xác trên sân nhà thờ. Phoebus lấy vợ (tên này thật ko ra gì!) Quasimodo biến khỏi nhà thờ Đức Bà, sau cái chết của cô gái Ai Cập và của phó giám mục. Không ai trông thấy gã nữa. Cũng không ai biết gã ra sao.

Trong đêm Esmeralda bị hành hình, theo thông lệ, người ta hạ xác cô xuống, đem đến hầm Montfaucon, nơi người ta ném xác tất cả những kẻ khốn khổ bị hành hình tại các giá treo cổ của Paris. Hai năm sau, người ta thấy ở Montfaucon hai bộ xương quấn lấy nhau một cách lạ lùng. Một trong hai bộ xương là của một người đàn bà. Còn một mảnh vải áo xưa kia màu trắng. Quanh cổ bộ xương có một sợi dây chuyền với một túi lụa nhỏ bị mở ra. Những vật ấy rất ít giá trị nên chắc tên đao phủ chẳng thèm lấy. Bộ xương kia ôm chặt bộ xương nọ, là của một người đàn ông. Xương sống bị vẹo, đầu tụt xuống dưới xương quai xanh, một chân ngắn, một chân dài. Không một khúc xương cổ nào bị gẫy. Chắc chắn là người này không bị treo cổ. Người này đã tự đến đây và chết ở đó. Khi người ta muốn tách nó ra khỏi bộ xương kia thì bộ xương tan thành bụi..

Image

Tiếp theo Phần 4: Cobh - Irealand - Aí Nhĩ Lan, thành phố với con tàu định mệng Titanic


          Top  
 
 
Post new topic Reply to topic



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest


Display posts from previous:  Sort by  
Jump to:  

You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum


cron
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group