Board index » VĂN / THƠ » Đoản văn / Truyện Sáng Tác/ Sưu Khảo

 


Post new topic Reply to topic
Author Message
Offline
PostPosted: Fri Sep 15, 2017 5:17 am
  

User avatar

Joined: Wed Jul 23, 2014 4:05 am
Posts: 296
Vài kỷ niệm với Thi Sĩ Bùi Giáng - Nhà thơ xứ Quảng.


Image



"Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn thì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác...Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu. ... Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao." - (Trích từ: Luận bàn về thơ, tác gỉa Bùi Giáng)

Trước khi đi vào câu truyện vui mà tôi sắp kể cho các bạn nghe, tôi xin thử hỏi nhỏ bạn câu này: Bạn có thật sự hiểu ý của thi sĩ Bùi Gíáng lý luận về thơ ở đoạn văn trên không? Nếu bạn hiểu thấu đáo thì khả năng về lãnh vực thơ của bạn cao hơn tôi nhiều lắm! Thú thật, tôi đọc thơ Bùi Giáng khá nhiều. Tôi mê thơ của người thi sĩ Xứ Quảng Nam mà người đời tặng cho một biệt hiệu bất hủ là "nhà thơ điên". Mặc dầu có nhiều bài thơ của ông tôi thật sự không hiểu một cách trọn vẹn nhưng tôi vẫn thích đọc thơ ông vì cái chất lạ trong thơ của ông gây ra trong tôi nhiều sự tò mò và nghiền ngẫm.

"Tay lẩy bẩy níu gì xuân bay biến
Ô thiều quang ! Làn nước cũ trôi mau
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc
Xa biệt lắm Mưa Nguồn trên mái tóc
Đã mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa"

(Giã từ Đà Lạt, 1958, Mưa Nguồn)


Lời thơ trong bài "Giã Từ Đà Lạt" thật nhẹ nhàng thanh thoát, uyển chuyển như mời gọi người đọc cùng tham dự với đất trời vào niềm hoan lạc của mùa Xuân. Thể thơ cổ điển, với âm điệu lạ ở từng câu, cái đặc sắc trong bài thơ là những hình ảnh tân kỳ trong thể thơ truyền thống.

Nhiều bài viết của các nhà phê bình cho rằng, văn học miền Nam trong giai đoạn trước 1975, nếu tôn danh Phạm Công Thiện là đỉnh cao của tríết học thì Bùi Giáng chính là tinh hoa về chữ nghĩa của trời đất. Hình ảnh thực của Bùi Giáng là kẻ hát rong giữa chợ đời và nhiều người đã vội vã kết luận ông điên qua lối sống lập dị. Chính vì sống lập dị này đây mai đó ở khắp vỉa hè của một người có trình độ trí thức ở bậc Thầy đã từng là giáo sư Đại Học, có sự hiểu biết siêu phàm cho nên cuộc đời của ông luôn được bao phủ bởi vô số những giai thoại ly kỳ, những câu chuyện hư hư, thực thực.

Vào tháng Tám năm 1975, tôi may mắn có dịp gặp thi sĩ Bùi Giáng dưới chân cầu Trương Minh Giảng bên cạnh trường "Đại Học Vạn Hạnh" được đổi tên thành trường "Đại Học Sư Phạm Sài Gòn".

Trước năm 1975, Vạn Hạnh là một trường đại học tư được quản lý và điều hành bởi các bậc tu hành của Phật giáo. Ngôi trường gồm có 3 tầng lầu với những giảng đường rất lớn và cả mấy chục lớp học. Tầng trên cùng là khu nội trú của các thiền sư, thời gian này thi sĩ Bùi Giáng đã cùng ở chung và sinh hoạt với các thiền sư, giáo sư của đại học Vạn Hạnh. Tôi được biết sau 1975, các thiền sư bị lệnh của chính phủ phải "di tản"chổ khác và thi sĩ Bùi Giáng từ đó không còn nơi trú ngụ nên ông đã chiếm một khu vực dưới chân cầu Trương Minh Giảng làm "nhà trọ".

Thuở đó, nhóm sinh viên miền Nam Việt Nam sắp ra trường như chúng tôi đều bị dồn vào trường Vạn Hạnh để học chính trị. Mấy tháng đầu khi mới nhập học, chúng tôi được chia ra thành từng tổ nhỏ để thảo luận chính trị. Mỗi lớp chia thành nhiều tổ, mỗi tổ có một bí thư đoàn làm hướng dẫn (nói là hướng dẫn chứ thật ra là để kiểm soát chính trị thì đúng hơn). Hàng ngày, chúng tôi dùng căn phòng sát chân cầu làm nơi sinh hoạt và ngay bên dưới là "nhà trọ" của thi sĩ Bùi Giáng. Nói là "nhà trọ" cho hoa mỹ nhưng thật ra đó chỉ là một khoảnh đất nhỏ dưới chân cầu và ông dùng tấm chiếu rách che làm thành chiếc lều nhỏ. Giường ngủ của thi sĩ là vài miếng giấy carton, tài sản của ông gồm vài bộ áo quần vá víu và vài món đồ lặc vặt như bình nước, vài chung trà cáu bẩn vung vải gần đó.

Lần đầu tiên tôi gặp thi sĩ Bùi Giáng tôi không tin vào mắt mình. Khuôn mặt hốc hác đói khổ, ốm yếu da bọc xương, tóc để dài và rối bù trông giống như những người điên hay thầy bùa bên bờ sông Hằng tại Ấn Độ. Thầy Bùi Giáng gặp chúng tôi thì cười nói luôn miệng và xin thuốc lá hút. Khuôn mặt tuy khắt khổ nhưng cặp mắt ông rất tinh anh và sáng ngời như xoi mói đọc được những điều mà chúng tôi đang suy nghĩ trong đầu.

Trong lớp học của chúng tôi rất nhiều người đã từng là học trò của Bùi Giáng nên khi gặp ông ta chúng tôi lúc nào cũng kính cẩn gọi ông bằng Thầy, mặc dầu lúc nào ông ta cũng gọi chúng tôi là "mày" và xưng "tao" như bạn bè cùng trang lứa. Vài trái chuối, một gói xôi, một vài đìếu thuốc lá chúng tôi lúc nào cũng có phần qùa cho người thi sĩ mà chúng tôi hằng kính trọng.

Thực sự chúng tôi không dám kết luận là Thầy điên thật hay giả điên nữa. Có những lúc ông ngồi giảng triết lý về truyện Kiều cho chúng tôi một cách say sưa. Lối giảng của thầy rất hấp dẫn người nghe, lúc đó không có dấu hiệu gì Thầy là người mất trí. Lại có lúc Thầy ôm mặt khóc rống lên rồi cười ngặt nghẻo. Những lúc đó chúng tôi đều sợ hãi và tránh xa Thầy.

Tôi còn nhớ có lần chúng tôi ngồi uống cà phê ở quán cốc trước cổng trường chờ giờ vào lớp. Lúc đó, Sài Gòn bị quản lý và kiểm soát bởi những đội công an trang phục màu vàng đậm, ngưòi ta gọi là công an áo vàng. Đang ngồi tán gẫu thì thi sĩ Bùi Giáng ở đâu chạy lại xin cà phê uống và nhập bọn với chúng tôi. Trong lúc đang ngồi nhâm nhi ly cà phê mà chúng tôi mua tặng, khi thấy mấy tên công an áo vàng khu vực đi ngang qua, thi sĩ Bùi Giáng tự nhiên hát rống lên:

"Đàn bò vào thành phố, đêm buồn vắng buồn hơn
Đàn bò vào thành phố, không còn ai hỏi thăm
Đàn bò tìm dòng sông, nhưng dòng nước cạn khô
Đàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn
Người chợt nghe xót xa đất mình . (Du Mục - Trịng công Sơn)


Mấy chàng công an áo vàng vừa đi qua, hình như hiểu ý châm biếm của Thầy vội quay đầu lại nhìn chúng tôi bằng những cặp mắt rất giận dữ. Thầy Bùi Giáng vẫn cứ đứng say sưa hát trước những cặp mắt kinh hoàng của chúng tôi và nàng bí thư Lê Thị Nguyệt. Cũng may hôm đó thấy một người như bị cơn điên đứng hát cho nên họ bỏ qua và không nói gì hết. Tuy nhiên hôm đó bản thân tôi bị người đẹp "bí thư" phê bình kịch liệt vì tội mời ông “khùng” Bùi Giáng nhập bọn uống Cafe .

May mắn cho tôi, nàng bí thư Nguyệt của lớp chúng tôi lại là người yêu của anh chàng Lê Thanh Hùng, là người bạn thân của tôi nên nàng ta cũng nhẹ nhàng với tôi nhiều lắm, so với mấy bạn cùng lớp khác (Lê Thanh Hùng chơi rất thân với tôi. Hắn thương Nguyệt nhưng lại rất ghét cái chức Bí Thư CS của nàng ta. Sau 1978 Lê Thanh Hùng trở thành một nhà báo, một ký gỉa đại diện cho đài BBC rất nổi tiếng tại Sài Gòn).

Thầy Bùi Giáng ngâm thơ không hay nhưng giọng rất khỏe và tốt. Tờ mờ sáng mới vào lớp, chúng tôi đã nghe ông ngâm thơ. Bài thơ "Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín" được ông ngâm đi ngâm lại hàng ngày khiến chúng tôi thuộc từng câu. Phải nói bài thơ thật tuyệt vời. Lời thơ chân chất, mộc mạc như tình người xứ Quảng. Thầy kể tôi nghe Thầy làm bài thơ khi đi chăn bò trên cánh đồng làng Trung Phước, Quế Sơn.

"Anh lùa bò vào đồi sim trái chín – Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín - Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa - Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả - Anh lim dim cho chết lịm hồn mình
Anh quên mất bò đương gặm cỏ - Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào
Có hay không? bò đương gặm đó? - Hay là đây tiếng gió thì thào?
Hay là đây tiếng suối lao xao - Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống?
Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm - Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
Mùi lên men phủ ngập mông lung - Không biết nữa mà cần chi biết nữa
Cây lá bốn bên song song từng lứa - Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang - Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó - Không biết trời đất có ngó mình không

Bùi Giáng (Vĩnh Trinh - Thạch Bàn 1950)


Tôi còn nhớ vào một buổi sáng khoảng tháng 10 năm 1975, lớp chúng tôi đang thảo luận lý thuyết về nguồn gốc của loài người. Bên dưới chân cầu cạnh lớp học, không biết có nghe được những lời tranh luận ồn ào của nhóm chúng tôi không, cũng không biết vô tình hay cố ý mà cứ khoảng vài phút là chúng tôi lại nghe Thầy Bùi Giáng la thật to một câu thơ Kiều: "Những điều trông thấy mà... đau đớn lòng..".

Cứ mỗi lần nghe Thầy rống lên là cả lớp bật cười ầm, nhất là khi Thầy cố tình lên giọng ở cụm từ "đau đớn lòng...". Giọng của Thầy có lúc thật bi thương, thống thiết và như tiếng khóc ai oán. Chịu không nổi được nữa, bí thư Nguyệt đề nghị Đinh Thị Thu Vân (Cô này sau này trở thành một nhà thơ rất nổi tiếng tại Sài Gòn) xuống chỗ ông Bùi Giáng và yêu cầu ông giữ im lặng.

Thu Vân đi xuống đó và chúng tôi tiếp tục thảo luận. Khoảng 10 phút sau không thấy Thu Vân trở lên mà lại nghe tiếng rống to của Thầy Bùi Giáng, lần này to hơn và Thầy không ngâm thơ nữa mà ứ a ứ à như là ca hát bội. Cả lớp một lần nữa cười ồ lên. Nàng bí thư Nguyệt giận tím mặt mày, chỉ định tôi và Lê Thanh Hùng xuống xem thử Thu Vân làm gì dưới đó và yêu cầu chúng tôi bắt buộc ông ta phải rời cái chân cầu Trương Minh Giảng ngay lập tức.

Chúng tôi leo xuống chân cầu thì một cảnh tượng vui nhộn hiện ra, trên hai chiếc ghế gỗ, Thu Vân và thi sĩ Bùi Giáng ngồi mặt đối mặt, cười cười nói nói coi bộ rất là tâm đầu ý hợp. Trên cái thùng gỗ kê làm thành cái bàn, chúng tôi còn thấy hai tách trà còn nghi ngút khói. Thấy chúng tôi, Thầy Bùi Giáng nghiêng cái đầu tóc rối bù và nói như hét:

"Tụi mày xuống thăm tao hả, ngồi uống trà đi. Bọn bây có tí rượu nào không? ".

Tôi nhìn Thu Vân, cô ta lắc đầu ra dấu một cách tuyệt vọng. Để Lê Thanh Hùng ngồi nói chuyện với Bùi Giáng, nàng kéo tay tôi vào một góc riêng và nói nhỏ.

"Em không đuổi Thầy được anh Dũng ơi, tội ổng lắm. Thầy đói quá anh lên trển kiếm cái gì cho ổng ăn đì".

"Bà Nguyệt la làng trên kia kìa, phải biểu Thầy im lặng" tôi nói nhỏ với Thu Vân.

Đóng một bộ mặt thật nghiêm trang tôi nhìn Thầy và tính lựa lời để khuyên Thầy giữ im lặng cho lớp học. Chưa kịp mở miệng thì Thầy đã chận tôi trước:

"Mày muốn đuổi tao đi khỏi chổ này à? Tôi lúng túng chưa kịp trả lời thì Lê Thanh Hùng đã nói trước. "Không ai đuổi Thầy đâu, thầy cứ ngồi uống trà". Hắn còn kêu tôi chạy qua bên kia chợ Trương Minh Giảng mua cho thầy một khúc bánh mì. "Cho Thầy ăn thì thầy không làm ồn đâu". Thu Vân cũng đồng ý như vậy. Không còn cách nào khác, tôi chạy đi mua một khúc bánh mì xì dầu (bánh mì không có thịt chỉ xịt tí xíu xì dầu) và đem về. Chúng tôi vừa ngồi nhìn Thầy ngấu nghiến ổ bánh mì vừa say sưa nghe ông kể chuyện Lý Thái Bạch ngày xưa.

Ông có lối kể chuyện rất hay, giọng trầm bỗng và rất thu hút.

"Nhà Thơ Lý Thái Bạch có một người yêu rất là đẹp nhưng nàng bị hư một mắt. Chỉ còn lại con mắt trái. Người ta hỏi Lý Thái Bạch nghĩ như thế nào khi lấy vợ mà chỉ có một con mắt. Thái Bạch trả lời rằng - Tất cả đàn bà trên thế gìới này đều có thừa một con mắt, vợ Lý Thái Bạch đẹp nhất trần gian".

Kể xong ông cười to rồi lại gào lên câu ""Những điều trông thấy mà... đau đớn lòng..". Ông ta la lớn đến độ chúng tôi phải giật mình. Bên trên lớp chúng tôi một lần nữa lại nghe các bạn lại cười ồ lên.

Đúng như đự đoán của tôi, chỉ năm phút sau thì nàng bí thư Lê Thị Nguyệt xuất hiện dưới chân cầu. Nàng trợn mắt nhìn chúng tôi khi thấy chúng tôi cùng ngồi quây quần bên Thầy Bùi Giáng. Mặc kệ Lê Thanh Hùng cố giải thích, nàng ta đổ tất cả tội lỗi lên đầu chúng tôi. Theo nàng, chúng tôi mang tội đồng loã với đám người thuộc tầng lớp "tri thức tiểu tư sản", một hiện tượng xấu và việc làm không đúng với con người của xã hội mới. Mặc kệ nàng cằn nhằn, Hùng nói nhỏ với tôi "ai thèm làm con người mới chứ, đói thấy mồ..”

Vài ngày sau đó, cả lớp chúng tôi đứng nhìn những người công an aó vàng đến bắt Thầy Bùi Giáng của chúng tôi đi. Không biết người ta đưa ông về đâu nhưng trong đám bạn chúng tôi không ai nói ra mà cũng mang một cảm nghĩ giống nhau. Một thiên tài sống lạc loài trong một xã hội mới nhưng đầy xa lạ.

Hơn 30 năm trôi lạc xứ người, không biết được tin tức gì của thi sĩ Bùi Giáng. Tôi nghĩ là Thầy Bùi Giáng của chúng tôi đã mất từ lâu vì đời sống thiếu thốn và thiếu dinh dưỡng bữa đói bữa no. Không nhà cửa, không nơi nương tựa làm sao ông có thể sống được trong một xã hội đầy sự thay đổi và đói khổ sau 1975.

Mãi đến năm 2005 tình cờ đọc trên một trang web tôi thấy có bài viết về người thi sĩ "điên cuồng" này. Thi sĩ Bùi Giáng, người xứ Quảng Nam của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng ở Sài Gòn vào năm 1998. Một câu hỏi lớn cứ chờn vờn trong đầu óc tôi từ ngày tôi đọc tin Thầy Bùi Giáng mất. Làm thế nào một người điên không đủ ăn có thể sống được hơn 20 năm trong một xã hội mà hoàn cảnh sống thật đói khổ nghiệt ngã?

Những năm gần đây khi đọc lại bài thơ "Mắt Buồn" của Thầy, tôi chợt hiểu ra. Thi sĩ Bùi Giáng không đìên, người rất tỉnh trí chỉ có xã hội Việt Nam chúng ta thời đó không bao nhiêu người thấy được cái tỉnh táo của người.

"Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão dông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Ầm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con"

(Mắt buồn - Bùi Giáng)


Một mùa Xuân nữa lại về, hôm nay nhớ lại chuyện ngày xưa, câu chuyện nhiều kỷ niệm của hơn 40 năm về trước, tôi xin thắp một nén hương để nhớ về Thầy Bùi Giáng, người thi sĩ Quảng Nam nổi tiếng không chỉ với giọng thơ lạ lùng, nhưng thật tuyệt vời mà cả cuộc đời của người cũng có vô số chuyện lạ đời. Tôi rất đồng ý với rất nhiều nguời cho rằng Thầy Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Thầy là một ngưòi nghệ sĩ chỉ biết “sống từ cõi văn nghệ lúy túy càn khôn”. Thầy chính là hiện thân của một "đạo thơ", một thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và đã chết cô đơn trên mảnh đất quê hương của chính mình....

Quốc Dũng - Mùa Xuân 2017


          Top  
 
 
Post new topic Reply to topic



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest


Display posts from previous:  Sort by  
Jump to:  

You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum


cron
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group